Phát triển bền vững cộng đồng người dân tộc thiểu số: Ba trụ cột: Kinh tế, môi trường và văn hoá
VHO- Thông qua hội thảo khoa học “Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững cho cộng đồng dân tộc thiểu số” do Trường ĐH Trà Vinh tổ chức tại TP.HCM vào cuối tuần qua, nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận, quan hệ dân tộc đã trở thành một trong những vấn đề cốt lõi.
Trình diễn âm nhạc Khmer
Theo các chuyên gia, các chính sách của Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn nhận diện bản sắc nhóm dân tộc và điều chỉnh ranh giới của thực thể chính trị. Trong lịch sử phát triển xã hội, Chính phủ thường áp dụng hai chính sách để điều chỉnh các quan hệ dân tộc. Một là xem các nhóm dân tộc là các thực thể chính trị, hai là xem các nhóm dân tộc là các nhóm văn hóa.
Chính sách trước đây nhấn mạnh các quyền lực chính trị và bảo toàn “lãnh thổ” của các nhóm dân tộc. Các chính sách sau này xem quan hệ dân tộc là tương phản văn hóa, và để giải quyết các vấn đề giữa những người khác nhau về nguồn gốc dân tộc. Đây không phải là vấn đề giữa các dân tộc mà chỉ là vấn đề giữa các cá nhân. Bằng cách nhấn mạnh đặc điểm văn hóa của các dân tộc, lợi ích chính trị của họ. Hơn nữa, trong quá trình di cư, mối quan hệ lịch sử giữa các nhóm dân tộc và nơi cư trú truyền thống của họ dần bị buông lỏng.
TS Nguyễn Thị Huệ, Trường ĐH Trà Vinh cho rằng, ở nhiều quốc gia, đôi khi chính sách đối với dân tộc thiểu số có quan hệ ngoại tộc là nguyên nhân ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại, làm tăng xung đột chính sách đối ngoại, đặc biệt là giữa các quốc gia có chung biên giới… “Nhìn lại chính sách dân tộc của một số nước, chúng tôi nhận thấy quả thật đã tồn tại những bất ổn trên con đường giải quyết vấn đề dân tộc và mâu thuẫn dân tộc”, TS Huệ nói và đưa ra bài học kinh nghiệm để có sự phát triển bền vững. Văn hóa là yếu tố quan trọng cần phải xét đến, bên cạnh đó việc đóng khung cộng đồng dân tộc thiểu số trong văn hóa của nhóm đa số thông qua hệ thống trường dân tộc nội trú. Trong khi đó, thực trạng phân biệt chủng tộc ở một số nước cho thấy đã tạo nên mâu thuẫn giữa cộng đồng dân tộc thiểu số và nhóm đa số, tạo ra bất bình đẳng giữa các nhóm dân tộc, và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững cộng đồng dân tộc thiểu số. Đơn cử tại Pháp, việc cấm phụ nữ Hồi giáo mang mạng che mặt đã gây tranh cãi, đây là một kiểu áp đặt và đồng hóa văn hóa của nhóm đa số trên cộng đồng dân tộc thiểu số…
Các nhà nghiên cứu nhận định rằng, một quốc gia có quan hệ dân tộc tốt sẽ có thể tăng cường sự gắn kết của các công dân thông qua hội nhập nội bộ tích cực, từ đó có thể giảm chi phí hành chính và hoạt động, nâng cao hiệu quả xã hội và các tổ chức kinh tế, tăng cường sức mạnh kinh tế. Ở một đất nước mà chính trị, kinh tế, văn hóa đang phát triển tích cực, tất cả các nhóm dân tộc sẽ được hưởng những lợi ích từ một nền kinh tế thịnh vượng và một xã hội hài hòa mang lại. Ngược lại, một quốc gia có quan hệ dân tộc nghèo nàn sẽ phải chịu sự mất đoàn kết xã hội và tan rã bởi mâu thuẫn nội bộ… Trong trường hợp các cuộc tranh luận dân tộc biến thành các cuộc đối đầu chính trị mở hoặc ly khai các phong trào, toàn bộ xã hội sẽ bị đảo lộn, có thể dẫn đến bạo loạn hoặc nội chiến, thậm chí là xâm lược của nước ngoài, Nhà nước sẽ nhanh chóng suy yếu…
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bền vững cộng đồng người thiểu số ở một số quốc gia, TS Dương Thành Trung đưa ra quan điểm, chắc chắn rằng việc phát triển bền vững cộng đồng dân tộc thiểu số cần dựa trên 3 trụ cột kinh tế, môi trường và văn hóa. Hẳn nhiên, văn hóa đã được bao trùm trong khái niệm xã hội. “Cần khẳng định rằng, để phát triển bền vững cộng đồng dân tộc thiểu số thì cần phải xét đến các yếu tố về văn hóa, sự bất bình đẳng cũng như phân biệt đối xử vì các yếu tố này góp phần rất lớn vào việc gây ra sự bất ổn xã hội, sự bất công và chênh lệch giàu nghèo giữa các dân tộc cùng cộng cư”, TS Trung cho hay.
Từ nghiên cứu chính sách ngôn ngữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Thái Lan, ThS Nguyễn Thị Thoa, Trường ĐH Trà Vinh cũng nói rằng, chính sách ngôn ngữ, văn hóa có một tầm quan trọng. Theo đó, chính sách ngôn ngữ, văn hóa không phù hợp có thể dẫn đến những hậu quả khó lường cho sự ổn định và phát triển đất nước. Trong vấn đề này, cần nhìn nhận lợi ích và ý nghĩa của việc giáo dục tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Việc giáo dục tiếng mẹ đẻ là hành động bảo tồn và phát huy tiếng mẹ đẻ của các dân tộc, góp phần làm phong phú, đa dạng ngôn ngữ, văn hóa của quốc gia và thế giới, bởi ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện, chuyển tải và bảo tồn văn hóa.
Theo PGS.TS Phan An, mỗi một quốc gia có một chính sách dân tộc tùy vào thể chế, điều kiện của quốc gia đó. Thế giới đang bước vào thời kỳ toàn cầu hóa, việc nghiên cứu chính sách dân tộc các nước trên thế giới là bài học rất có ý nghĩa đối với Việt Nam. Từ đây Việt Nam cần có những cuộc khảo sát, nghiên cứu sâu để có những nước điều chỉnh, bổ sung những chính sách phù hợp hơn.
THÙY TRANG

RSS